Động
lực đấu tranh cho tự do dân chủ
Nguyễn Chính Kết
Như chúng ta
đã biết, để bảo vệ độc quyền cai trị, quyền cưỡi đầu cưỡi cổ người dân và quyền
ăn cướp trên đất nước Việt Nam một cách vô thời hạn, CSVN đã dùng hiến pháp,
luật pháp, tòa án, toàn bộ bộ máy nhà nước, các phương tiện truyền thông, và
các công cụ cụ thể như quân đội, công an… để thực hiện mục đích ấy. Như quá khứ
đã chứng tỏ, họ đã sử dụng những phương tiện hữu hiệu trên một cách vô nhân đạo
nhất, hèn hạ nhất, dã man nhất, bẩn thỉu và tồi tệ nhất, thậm chí sẵn sàng bán
đất bán biển, bán cả giang sơn cho ngoại bang chỉ để bảo vệ cái độc quyền ăn
cướp ấy.
Họ đã dùng
biện pháp khủng bố làm cho mọi người dân sợ hãi: sợ chết, sợ tù, sợ mất việc
làm, sợ bị phiền nhiễu, sợ người thân bị liên lụy… hầu người dân phải luôn luôn
khuất phục, vâng lời họ. Nhiều người dân sợ đến nỗi chấp nhận làm tay sai cho
họ, sẵn sàng tuân hành những mệnh lệnh phi lý và vô nhân nhất của họ. Cụ thể
nhất là những tên công an hèn tới mức sẵn sàng đánh đập, tra tấn người dân vô
tội chỉ để thực hiện lệnh cướp của giết người của cấp trên, không cần biết lệnh
đó đúng sai, phải trái gì cả.
Tuy nhiên,
trong số dân chúng vẫn luôn luôn có những người vượt thắng được những nỗi sợ
hãi cố hữu đang đè nặng trên nhân dân để tranh đấu, để nói lên những điều mà
chẳng mấy ai dám nói. Họ đã mạnh dạn nói lên những khát vọng sâu xa của người
dân về tự do dân chủ đã bị đảng CSVN tước đoạt suốt gần 70 năm tại Miền Bắc, và
gần 40 năm qua tại Miền Nam .
Họ dám nói lên những bất công, những đau khổ mà người dân phải chịu do chế độ
độc tài độc đảng đang gây ra cho người dân. Những người can đảm này dám nói lên
sự vô nhân, thất đức, sự hèn hạ, bất xứng của giai cấp lãnh đạo đang quyết tâm
bám lấy “ngai vàng” với bất cứ giá nào bất chấp sự bất lực, vô tài, thất đức
của mình. Họ đã can đảm nói lên sự thật bất chấp bị đe doạ, sách nhiễu, bất
chấp bị quản chế hay vào tù, thậm chí bất chấp cả cái chết… Họ là những người
đang lên tiếng tranh đấu cho tự do dân chủ, cho quyền làm người, cho công lý xã
hội như Lm Nguyễn Văn Lý, Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải,
Ls Cù Huy Hà Vũ, v.v… Trong đó có cả những liễu yếu đào tơ như Tạ Phong Tần, Đỗ
Thị Minh Hạnh, Mai Thị Dung, Hồ Thị Bích Khương, v.v...
Cái gì đã thúc
đẩy họ, khiến họ can đảm hy sinh tranh đấu như thế? Chính là tình yêu đối với
quê hương dân tộc, đối với đạo pháp, đặc biệt đối với những người dân đang đau
khổ. Nghĩ tới biết bao người bị tù, bị giết, bị tra tấn, bị bạc đãi vì lý do
tôn giáo, vì chống bất công xã hội, vì khác quan điểm chính trị với những kẻ
cầm quyền, vì thấp cổ bé miệng, hay chẳng vì một lý do nào cả, họ cảm thấy
không thể im lặng hay ngồi yên như thể không có chuyện gì xảy ra. Nghĩ tới biết
bao người đau khổ, trở nên trắng tay vì bị tước đoạt tài sản, nhà cửa, đất đai
ruộng vườn do lòng tham vô đáy của những kẻ có chức có quyền, họ sẵn sàng chấp
nhận vào tù ra khám để tranh đấu thay cho những người ấy. Họ cảm thấy những đau
khổ mà họ phải chịu do việc tranh đấu của họ đâu nhằm nhò gì so với trăm triệu đau
khổ mà người dân Việt đang phải gánh chịu vì chế độ độc tài. Nếu phải đau khổ hay
phải chết mà hy vọng làm cho dân chúng bớt khổ thì họ sẵn sàng chấp nhận.
Họ thường không
phải là những người có tiếng nói mạnh mẽ trong xã hội như các đại tướng trong
quân đội hay các bộ trưởng trong chính phủ, hay như những ông chủ tịch tỉnh,
chủ tịch thành phố, cũng không phải như những vị giám mục hay hòa thượng có cả
hàng vạn, triệu tín hữu sẵn sàng nghe lời dạy bảo của mình… Họ chỉ là những
người bình thường, có tiếng nói rất hạn chế của một linh mục, một mục sư, một
thượng tọa, hay một luật sư, một kỹ sư, một giáo sư, một nhà văn… thậm chí chỉ
là một sinh viên, một nông dân, một công nhân rất bình thường… Họ đã chờ đợi
những người nổi tiếng, những người có uy tín lẫy lừng, những người mà lời nói
“có gang có thép” lên tiếng đấu tranh để họ ủng hộ. Nhưng chính những người này
nhiều khi im lặng thụ động, có vẻ như đồng lõa hay sợ hãi mà đành chấp nhận bạo
lực, hay không đủ tình yêu và can đảm để tranh đấu, không đủ ý thức trách nhiệm
để thấy rằng trong hoàn cảnh đất nước như hiện nay, mình phải làm một cái gì
hơn là những việc mình phải làm trong một xã hội bình thường.
Không thể chờ
đợi những người khác lên tiếng rồi mình mới lên tiếng, vì nếu ai cũng chờ như
thế thì sẽ chẳng ai lên tiếng cả. Ý thức được trách nhiệm của một người dân
trong một đất nước lầm than: “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, “giặc
đến nhà, đàn bà phải đánh”, dù cảm thấy tiếng nói của mình rất nhỏ bé, họ vẫn
cảm thấy trách nhiệm phải lên tiếng. Lên tiếng cho những kẻ không có tiếng nói,
cho những kẻ không dám nói, cho những kẻ muốn nói mà không nói được, nhất là
cho những kẻ đang bị áp bức cách bất công…
Trong bầu khí
đón mừng Chúa Cứu Thế giáng sinh, nhiều người đã suy tư từ sự kiện lịch sử đặc
biệt này để có thêm những động lực đấu tranh mạnh mẽ, nhất là những Kitô hữu. Đối
với họ, tranh đấu vì yêu thương quê hương dân tộc cũng là một cách thờ phượng
Thiên Chúa, và có thể đó là cách tốt nhất, tuyệt vời nhất. Gương của Đức Giêsu
cho chúng ta thấy điều ấy.
Ngài xuống thế
làm người vì yêu thương nhân loại. Ngài sống cuộc đời trần thế với bao khổ đau
như mọi người cũng vì yêu thương nhân loại. Ngài chịu khổ hình và chết nhục nhã
trên thập giá cũng vì yêu thương nhân loại. Chính vì yêu thương nhân loại, mà
tất cả những hành vi yêu thương và sự hy sinh cho nhân loại của Ngài như xuống
thế, sống đời trần thế, chịu khổ hình và chết trên thập tự, và hành vi lập phép
Thánh Thể của Người cũng đều là những hành vi được Giáo Hội chính thức nhìn
nhận là những hành vi thờ phượng Thiên Chúa, và là hành vi thờ phượng Thiên
Chúa chính danh nhất, đúng nghĩa nhất. Nơi Đức Giêsu, hành vi yêu thương nhân
loại và hành vi thờ phượng Thiên Chúa chỉ là một hành vi duy nhất, chứ không
phải là hai hành vi khác nhau. Nói khác đi, đối với Ngài, yêu thương nhân loại,
hy sinh cho hạnh phúc của nhân loại cũng chính là thờ phượng Thiên Chúa.
Dường như nơi Ngài
không có sự phân biệt giữa hai việc: yêu mến Thiên Chúa và yêu thương con
người. Hễ yêu mến Thiên Chúa thì tất nhiên phải yêu thương con người. Mà yêu
thương và hy sinh để cứu khổ và mưu cầu hạnh phúc cho tha nhân cũng chính là
yêu mến và thờ phượng Thiên Chúa cách tuyệt hảo nhất. Hai điều đó, hai giới răn
đó tự bản chất chỉ là một giới răn duy nhất, chỉ có thể phân biệt chứ không thể
tách biệt. Tách rời nhau được thì chúng không còn là yêu mến Thiên Chúa hay yêu
thương tha nhân đúng nghĩa nữa. Cũng tương tự như cây thập giá mà Ngài chịu
chết trên đó gồm hai thanh dọc và ngang, hai thanh tạo thành một thập giá duy
nhất. Thanh dọc tượng trưng cho tình yêu đối với Thiên Chúa, và thanh ngang
biểu tượng cho tình yêu đối với đồng loại. Tách rời hai thanh ấy ra thì không
còn là thập giá nữa.
Thờ phượng
Thiên Chúa bằng yêu thương và hy sinh cho tha nhân có giá trị hơn những nghi
thức tôn giáo, vì điều cốt yếu nhất trong việc thờ phượng là sự hy sinh: mọi sự
thờ phượng từ nguyên thủy −chẳng hạn trong Do Thái giáo− đều đòi hỏi sự hy
sinh, mất mát, thiệt thòi nào đó như sát tế lễ vật. Hy sinh một vật ngoài mình
không giá trị bằng hy sinh chính mình hay hy sinh một cái gì đó thân thiết nhất
của mình: mạng sống, hạnh phúc, an toàn bản thân, người mình yêu, vật mình quý,
ý muốn, danh dự, uy tín, sức khỏe, thì giờ, tiền bạc, tiện nghi… Nhiều nghi
thức thờ phượng trong tôn giáo không hề đòi hỏi kẻ thờ phượng phải hy sinh,
chấp nhận đau khổ, nếu có thì chỉ đòi hỏi hy sinh những gì bên ngoài mình,
không mấy thân thiết với mình. Nếu đòi hỏi phải hy sinh bản thân hay những thứ
thân thiết nhất với mình mới là sự thờ phượng chân chính, ắt số người thờ
phượng đúng nghĩa sẽ ít hơn rất nhiều.
Hành vi nào
của Đức Giêsu ở trần gian cũng đều vừa là yêu thương con người, vừa là thờ
phượng Thiên Chúa. Đó là một hành vi nhưng có hai giá trị không thể tách rời.
Vì thế, cách thức yêu mến và thờ phượng Thiên Chúa mà Ngài yêu chuộng nhất chính
là coi nhân loại hay tha nhân như hiện thân của chính Thiên Chúa để yêu thương
và hy sinh cho họ như yêu thương và hy sinh cho chính Thiên Chúa. Tha nhân là
tất cả mọi người không trừ ai. Nhưng những người đáng cho chúng ta ưu tiên yêu
thương và hy sinh chính là những người đang đau khổ, những người nghèo hèn,
bệnh tật, những người bị áp bức, bị tước đoạt những quyền căn bản và chính đáng
nhất của con người, bị chiếm đoạt nhà cửa, ruộng vườn khiến họ phải sống vất
vưởng vô gia cư, những người bị tù đày, bị tra tấn, sách nhiễu, bị đối xử bất
công…
Trong hoàn
cảnh đất nước bị chế độ độc tài cộng sản đô hộ hiện nay, việc tranh đấu chống
độc tài, áp bức, bất công, để đem lại tự do, công bằng và hạnh phúc cho quê
hương chính là một trong những cách thức yêu mến và thờ phượng Thiên Chúa cụ
thể và thiết thực nhất. Tất cả những người đang hy sinh bản thân, mạng sống,
chấp nhận đau khổ, tù tội để làm cho tha nhân được ấm no, hạnh phúc, cho xã hội
được tự do, công bằng, thăng tiến… nhất là những người đang liều mình tranh đấu
cho tự do dân chủ của quê hương, dù họ thuộc bất kỳ tôn giáo nào, đều là những
người yêu mến và thờ phượng Thiên Chúa cách đúng nghĩa nhất.
Chúa Giêsu
xuống thế làm người, chịu biết bao đau khổ và chịu chết nhục nhã để cứu nhân
loại chỉ vì Ngài yêu thương nhân loại. Những hành động yêu thương đều được Giáo
Hội coi là những hành động thờ phượng Thiên Chúa đúng nghĩa nhất. Điều đó đáng
chúng ta suy nghĩ để có những động lực tuyệt hảo mà hy sinh cho tha nhân, nhất
là cho dân tộc Việt Nam
của chúng ta đang đau khổ quằn quại dưới ách thống trị bạo tàn của Cộng sản.
Nguyễn Chính
Kết